P/E Là Gì? Cách Tính Và Định Giá P/E? Ý Nghĩa Chỉ Số P/E

Số lượt đọc bài viết: 4.796

Trailing P/E: loại lấy thu nhập 1 trước đó. Khi nói P/E thì được hiểu là P/E trailing.

Forward PE (P/E dự phóng) loại dự báo thu nhập 1 năm tiếp theo.

Khi đã nắm được khái niệm chỉ số P/E là gì thì bạn cần ghi nhớ chi tiết về cách tính chỉ số P/E như sau: P /E = Giá thị trường (Price) / thu nhập của mỗi cổ phiếu (EPS).

P (Market Price): Giá thị trường tại thời điểm giao dịch.

EPS (Earning Per Share) : thu nhập của mỗi cổ phiếu

Công thức EPS: = (thu nhập ròng – Cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành)

Hệ số P/E là gì? – P/E thể hiện giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nói cách khác là nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một đồng thu nhập. P/E được tính toán dựa trên số liệu trong vòng 1 năm.

Ví dụ: Công ty A có giá cổ phiếu bán trên thị trường là 180.000đ và thu nhập của mỗi cổ phiếu là 9.000đ thì chỉ số P/E sẽ là: P/E= 180.000/9000= 20. Điều này đồng nghĩa với việc nhà đồng tư sẵn sàng trả 20 đồng cho một đồng lợi nhuận của công ty A kiếm được trong vòng 1 năm. Nếu chỉ số P/E là 10, đồng nghĩa với việc nhà đầu tư chỉ trả 1 đồng cho 1 đồng lợi nhuận.

Qua định nghĩa P/E là gì, chúng ta thấy vai trò của chỉ số này quan trọng như nào. Chỉ số P/E dùng để đánh giá tình hình hoạt động của một doanh nghiệp, có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của nhà đầu tư. Nhà đầu tư sẽ dựa vào hệ số P/E để phân tích, đánh giá, so sánh giữa các doanh nghiệp.

Thông thường, chỉ số P/E dao động từ 5- 15.

Nếu chỉ số P/E lớn hơn 20 (cao) có nghĩa là:

Cổ phiếu doanh nghiệp đang được định giá cao.

Doanh nghiệp có tiềm năng phát triển trong tương lai.

Lợi nhuận ít nhưng chỉ mang tính tạm thời.

Doanh nghiệp ở vùng đáy chu kỳ kinh doanh – cổ phiếu theo chu kỳ.

Cổ phiếu của doanh nghiệp đang bị định giá thấp.

Doanh nghiệp đang gặp vấn đề (tài chính, hoạt động kinh doanh…).

Công ty có được những khoản lợi nhuận đột biến (ví dụ như bán tài sản,…).

Doanh nghiệp ở vùng đỉnh chu kỳ kinh doanh – cổ phiếu theo chu kỳ.

Những lưu ý khi tính toán chỉ số P/E

P/E được tính toán dựa trên số liệu trong vòng 1 năm. Tuy nhiên, do lợi nhuận của doanh nghiệp chịu nhiều tác động của các yếu tố khách quan, nên có thể lên xuống thất thường.

Như vậy, chỉ số P/E chỉ có tác dụng khi được đặt trong cùng một hoàn cảnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến P/E như: tốc độ tăng trưởng, khả năng cạnh tranh, mức độ an toàn về mặt tài chính, ngành nghề kinh doanh, các điều kiện vĩ mô như lãi suất, lạm phát, tốc độ tăng trưởng của đất nước.

Vì vậy, khi đưa ra các quyết định đầu tư, cần xem xét P/E trong nhiều năm hoặc thực hiện phân tích, đánh giá, so sánh với P/E với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Khi các điều kiện kinh doanh, tài chính và vĩ mô như nhau, thì chỉ số P/E càng thấp càng tốt.

Đánh giá P/E dựa vào các góc độ:

Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp: Nếu chỉ số tăng trưởng của doanh nghiệp chỉ từ 5-7% mà chỉ số P/E vẫn đạt mức cao, chứng tỏ giá cổ phiếu của doanh nghiệp này rất cao

Chỉ số P/E của ngành: Phải so sánh chỉ số P/E trong cùng một ngành, nếu bạn so sánh chỉ số P/E của một công ty điện với P/E của một công ty kỹ thuật cao thì điều đó là vô nghĩa

Mức độ lạm phát, lãi suất trái phiếu: P/E sẽ trở nên vô ích nếu không phản ánh mức độ lạm phát, lãi suất,…

Các rủi ro của doanh nghiệp như: Nợ, các rủi ro kinh doanh: rủi ro về quản trị, khả năng xâm nhập ngành.

P/E chỉ cho thấy hình ảnh của công ty, không phải là hệ số đáng tin cậy để đánh giá bởi các lý do sau:

P/E chỉ có ý nghĩa so sánh đối với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, quy mô và một số điều kiện khác. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có đủ các doanh nghiệp có những nét tương đồng như vậy để so sánh nên ta không có cơ sở để đánh giá P/E một cách chính xác và toàn diện nhất

Theo pháp luật về chứng khoán Việt Nam không bắt buộc các công ty công bố cụ thể về thông tin. Mặt khác, các công ty báo cáo cho cơ quan đăng ký kinh doanh về các hoạt động nhưng chỉ mang tính chung chung, không cụ thể. Vì vậy , nhà đầu tư không thể nắm bắt được thông tin và không thể dự kiến chắc chắn được lợi nhuận sắp tới.

Mối liên hệ giữa chỉ số tài chính với chỉ số P/E là gì?

P/E là một chỉ số tài chính quan trọng, cho thấy hình ảnh của một công ty và có mối liên hệ mật thiết với các chỉ số tài chính khác. Vậy mối liên hệ giữa các chỉ số tài chính EPS, EPG với P/E là gì

EPS là thu nhập trên một cổ phiếu, đây là biến số quan trọng trong việc tính giá cổ phiếu. Đây cũng là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỷ lệ P/E, E trong hệ số P/E là EPS. P là giá cổ phiếu, nó luôn thay đổi nhưng chỉ được doanh nghiệp công bố theo quý. Còn kết quả tử số EPS là biến số luôn thay đổi, là yếu tố quyết định đến chỉ số P/E.

PEG là chỉ số so sánh giữa chỉ số P/E và và tốc độ tăng trưởng (G) thu nhập ròng của cổ phiếu (EPS) Như vậy, để biết P/E nào là phù hợp với từng mã cổ phiếu phải thông qua chỉ số PEG, ta sẽ có: PEG = (P/E)/G

Nếu chỉ số PEG bằng 1, đồng nghĩa với việc tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu đã được thị trường phản ánh đầy đủ trong giá cổ phiếu.

Khi chỉ số PEG nhỏ hơn 1, đồng nghĩa với việc cổ phiếu đó đang bị định giá thấp hoặc thị trường không còn kỳ vọng vào sự tăng trưởng thu nhập như dự báo mà doanh nghiệp đã đưa ra. Những kỳ vọng về thu nhập cổ phiếu của nhà đầu tư đang tăng lên trong khi thị trường không nhận ra được tiềm năng của cổ phiếu đó dẫn đến việc các cổ phiếu thu nhập thường có chỉ số PEG nhỏ hơn 1. Mặt khác, có thể là do kỳ vọng của nhà đầu tư vào cổ phiếu đó đã giảm mạnh so với những dự báo mà doanh nghiệp đưa ra

Tốc độ tăng trưởng G của thu nhập ròng của cổ phiếu (EPS) là tốc độ tăng trưởng kỳ vọng và dự đoán của nhà đầu tư. Nhà đầu tư dự đoán tốc độ tăng trưởng G càng chính xác thì mức P/E càng hợp lý; vì vậy, sẽ mua được cổ phiếu với mức giá hấp dẫn nằm trong tính toán.

Chỉ Số P/E Là Gì? Ý Nghĩa Của P/E Trong Đầu Tư Chứng Khoán

Chỉ số P/E là viết tắt của Price to Earning Ratio (PER), một số tên gọi khác như tỷ số P/E, Hệ số P/E;

Chỉ số P/E là một trong những công cụ để định giá cổ phiếu khi đầu tư chứng khoán

Chỉ số P/E chính bằng số năm mà nhà đầu tư hòa vốn khi đầu tư vào doanh nghiệp, nếu lợi nhuận không đổi.

(Công thức EPS: = Lợi nhuận sau thuế / Tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành)

P (Price): EPS ( Earning Per Share) P/E được tính toán dựa trên cơ sở số liệu của công ty trong một năm. Vì vậy hệ số P/E cũng có thể tăng hay giảm tùy thời điểm Lợi nhuận sau thuế trên mỗi cổ phiếu. Thị giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại.

Ví dụ:

Hiểu đơn giản: P/E = Số năm hòa vốn (Nếu lợi nhuận không đổi)

P/E là số liệu được tính toán dựa trên số liệu của 4 quý liên tiếp.

Nhà đầu tư nên phân biệt rõ hai loại P/E: loại lấy thu nhập bốn quí trước đó (gọi là trailing P/E) và loại dự báo thu nhập bốn quí tiếp theo (gọi là forward P/E hay P/E dự phóng). Khi nói đơn giản P/E, thì nên hiểu là trailing P/E.

Nếu P/E của FPT là 10, một con số khá hợp lý, nhưng nếu FPT tăng trưởng 50% vào năm sau, thì forward P/E (P/E dự phóng) là 6.6, vậy giá cổ phiếu hiện tại của FPT là 50.000đ vẫn là khá rẻ.

Như vậy, ta có thể thấy P/E càng cao thì cổ phiếu càng đắt và ngược lại.

Chỉ số P/E chỉ có tác dụng thực sự khi chúng ở cùng hoàn cảnh, điều kiện như nhau.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến P/E như tốc độ tăng trưởng, lợi thế cạnh tranh, ngành kinh doanh. Điều kiện vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tốc độ tăng trưởng GDP..

Khi các điều kiện kinh doanh, tài chính, vĩ mô như nhau, thì chỉ số P/E càng thấp càng tốt.

Thực sự đánh giá chỉ số P/E như thế nào là tốt hay hợp lý là điều rất khó, tuy nhiên bạn có thể lưu ý những khía cạnh sau:

Công ty phát triển nhanh và tăng trưởng lợi nhuận k? (nếu lợi nhuận chỉ tăng trưởng 5-10%/năm mà P/E tăng gấp đôi, chứng tỏ giá cổ phiếu đang tăng rất cao);

Chỉ số P/E của ngành ra sao (so sánh P/E của một công ty dầu khí với P/E của công ty cao su là điều vô nghĩa).

Vậy P/E bao nhiêu là hợp lý?

Như vậy, P/E cao thường mang nhiều rủi ro hơn so với P/E thấp, vì bạn đang phải mua cổ phiếu với giá đắt. Điều này k có nghĩa là bạn mua cổ phiếu P/E cao sẽ thua lỗ và mua cổ phiếu P/E thấp sẽ có lãi.

P/E cao cũng thường gắn liền với những công ty tăng trưởng, P/E thấp là đặc tính thường thấy của cổ phiếu giá trị (có thể hiểu là cổ phiếu của những công ty có tình hình kinh doanh ổn định , hệ số tài chính tương đối tốt, nhưng lợi nhuận k tăng trưởng).

P/E là một chỉ số đơn giản và dễ tính toán, là một công cụ định giá hiệu quả trong đầu tư, nhưng bạn cần lưu ý:

EPS có thể âm và P/E không có ý nghĩa khi mẫu số âm, do đó bạn phải sử dụng các công cụ định giá khác.

Ý Nghĩa Của Gplx Hạng A, B, C, D, E, F

1. Bằng lái xe hạng A1 – hạng này cấp cho:

2. Bằng lái xe hạng A2 được cấp cho người lái xe để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xy lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe theo quy định cho GPLX hạng A1.

3. Bằng lái xe hạng A3 được cấp cho người lái xe để điều khiển xe như: Mô tô ba bánh, bao gồm cả xe lam, xích lô máy, kể cả xe lam và các loại xe quy định cho GPLX hạng A1.

4. Bằng lái xe hạng A4 được cấp cho người lái xe để điều khiển các loại máy kéo nhỏ có trọng tải đến 1000kg.

Ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, tính cả chỗ ngồi cho người lái xe

Ô tô tải, tính cả ô tô tải chuyên dùng có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn

Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế dưới 3,5 tấn

Ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng, ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn trở lên

Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế từ 3,5 tấn trở lên

Các loại xe quy định cho GPLX hạng B1 và B2.

Người có GPLX các hạng B1, B2, C, D và E khi điều khiển các loại xe tương ứng được kéo thêm một rơ moóc có trọng tải thiết kế không quá 750 kg.

Bằng lái xe hạng FB2 cấp cho người lái xe ô tô được quy định tại GPLX hạng B2 có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho GPLX hạng B1 và hạng B2

Bằng lái xe hạng FC cấp cho người lái xe ôtô được quy định tại GPLX hạng C có kéo rơ moóc, ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho GPLX hạng B1, B2, C và hạng FB2

Bằng lái xe hạng FD cấp cho người điều khiển xe ô tô được quy định tại GPLX hạng D có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho GPLX hạng B1, B2, C, D và FB2

Bằng lái xe hạng FE cấp cho người điều khiển xe ô tô được quy định tại GPLX hạng E có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe: ô tô chở khách nối toa và các loại xe quy định cho GPLX hạng B1, B2, C, D, E, FB2, FD.

Thời hạn của GPLX hạng A1, A2, A3 không có thời hạn.

Thời hạn của GPLX hạng A4, B1, B2 có thời hạn 10 năm, được tính từ ngày cấp.

Thời hạn của GPLX hạng C, D, E, FB2, FC, FD, FE có thời hạn 05 năm, tính từ ngày cấp.

Eps Và P/E Có Ý Nghĩa Thế Nào Trong Đầu Tư?

EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu.

Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức:

EPS = (Thu nhập ròng – cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông.

Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.

EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên.

Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo “chất lượng” của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.

Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price – P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share – EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPS

Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.

P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.

Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu AAA không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Lúc đó cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu AAA, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu AAA.

Ý Nghĩa Của Giấy Phép Lái Xe Hạng A, B, C, D, E, F…

1.1 Hạng A1 – hạng này cấp cho:

a) Người lái xe để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xy lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3;

b) Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật.

1.2. Hạng A2 cấp cho người lái xe để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xy lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1.

1.3. Hạng A3 cấp cho người lái xe để điều khiển xe mô tô ba bánh, bao gồm cả xe lam, xích lô máy và các loại xe quy định cho giấy phép lối xe hạng A1.

1.4. Hạng A4 cấp cho người lái xe để điều khiển các loại máy kéo nhỏ có trọng tải đến 1000 kg.

2. Về ô tô

2.2. Hạng B1 cấp cho người không hành nghề lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, kể cả chỗ ngồi cho người lái xe;

b) Ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg;

c) Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg.

2.2. Hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg;

b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1.

2.3. Hạng C cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng, ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế từ 3500 kg trở lên;

b) Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế từ 3500 kg trở lên;

c) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2.

2.4. Hạng D cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi, kể cả chỗ ngồi cho người lái xe;

b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2 và C.

2.5. Hạng E cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi;

b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C và D.

Người có giấy phép lái xe các hạng B1, B2, C, D và E khi điều khiển các loại xe tương ứng được kéo thêm một rơ moóc có trọng tải thiết kế không quá 750 kg.

2.6. Hạng F cấp cho người đã có giấy phép lái xe các hạng B2, C, D và E để điều khiển các loại xe ô tô tương ứng kéo rơ moóc có trọng tải thiết kế lớn hơn 750 kg, sơ mi rơ moóc, ô tô khách nối toa, được quy định cụ thể như sau:

a) Hạng FB2 cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng B2 có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1 và hạng B2;

b) Hạng FC cấp cho người lái xe ôtô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng C có kéo rơ moóc, ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C và hạng FB2;

c) Hạng FD cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng D có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D và FB2;

d) Hạng FE cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng E có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe: ô tô chở khách nối toa và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D, E, FB2, FD.

Ngoài ra, quy định về thời hạn của giấy phép lái xe như sau:

1. Giấy phép lái xe hạng A1, A2, A3 không có thời hạn.

2. Giấy phép lái xe hạng A4, B1, B2 có thời hạn 10 năm, kể từ ngày cấp.

3. Giấy phép lái xe hạng C, D, E, FB2, FC, FD, FE có thời hạn 5 năm, kể từ ngày cấp.

(Theo Autodailly/TTTĐ)