Xu Hướng 2/2024 # Buốt Ruột So Sánh Thu Nhập Và Giá Ôtô Ở Mỹ # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Buốt Ruột So Sánh Thu Nhập Và Giá Ôtô Ở Mỹ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Daitayduong.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thu nhập bình quân đầu người chưa nổi 2.000 USD/năm, vẫn thuộc diện nước nghèo, thế nhưng Việt Nam lại đang là quốc gia có giá xe hơi thuộc vào loại đắt nhất thế giới, gấp hơn hai lần so với các nước phát triển và khoảng 1,5 lần so với các nước trong khu vực.

Bấy lâu nay, bất kỳ ai đang quan tâm đến việc mua xe hơi bằng chính đồng tiền của mình, cũng đều rất bất bình vì giá cao một cách phi lý như thế.

Thu nhập thấp, mua xe giá cao

Theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương, năm 2013, Việt Nam có mức thu nhập bình quân đầu người đạt 1.960USD/người/năm. Ở Mỹ chỉ số này là 50.708 USD, cao hơn 26 lần Việt Nam. Chỉ số chênh lệch là vậy, nhưng khổ nỗi, một người dân ở một nước đang phát triển như ở Việt Nam lại phải mua xe ôtô với số tiền cao gấp 2,5 lần so với một người dân ở nước đang nằm trong Top 5 quốc gia giàu nhất thế giới như Mỹ.

Xe hơi ở Việt Nam đắt gấp 3 lần ở Mỹ

Lấy ví dụ về giá của mẫu xe Toyota Camry (một mẫu xe được ưa chuộng cả ở Mỹ và Việt Nam). Ở Mỹ mẫu Camry L đời 2013 động cơ 2.5L I4 có giá khởi điểm hơn 22.000 USD, phiên bản cao nhất là XLE động cơ 3.5L V6 có giá chưa tới 30.500USD. Còn ở Việt Nam, nếu muốn sở hữu Toyota Camry 2.5Q hay 2.5G (cùng dung tích xi-lanh với Camry L 2.5 tại Mỹ), người mua phải bỏ ra số tiền gần 60.000USD, cao gần gấp 3 lần tại Mỹ.

Gần gũi hơn, hãy nhìn sang các nước nằm trong khu vực ASEAN là Thái Lan và Indonesia. Tại Indonesia, 5 năm trước, Chính phủ đã lên kế hoạch phát triển xe cỡ nhỏ, giá rẻ. Xe giá rẻ được quy định rõ có giá từ 4.400 USD đến 7.400 USD, tiêu thụ nhiên liệu tối đa 5 lít/100 km. Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc là 60%. Mục tiêu của Indonesia là để người dân có mức thu nhập từ trung bình có cơ hội sở hữu xe hơi, đồng thời tăng sản lượng, phát triển công nghiệp ôtô.

Kết quả là đến nay, 1 loạt các mẫu xe giá rẻ đã ra đời đáp ứng nhu cầu của người dân. Tầng lớp bình dân ở Indonesia giờ có thể dễ dàng mua 1 chiếc xe giá dưới 10.000 USD với động cơ 1.0L như Mitsubishi Mirage, Daihatsu Ayla, Honda Brio Satya… Ở Việt Nam thì không chuyện đó.

Toyota Yaris có giá bán 17.700 USD tức chưa đến 400 triệu đồng, khi nhập khẩu về Việt Nam giá lên tới 661 triệu đồng

Tại Thái Lan, chiếc Toyota Yaris phiên bản E có giá bán 17.700 USD tức chưa đến 400 triệu đồng, khi nhập khẩu về Việt Nam giá lên tới 661 triệu đồng. Suzuki Swift lắp ráp tại Việt Nam có giá bán 550 triệu đồng, nhưng tại Thái Lan giá bán ra chỉ có 15.000 USD tức hơn 300 triệu đồng.

Thu nhập bình quân đầu người Thái Lan năm 2013 đạt trên 10.000 USD, còn Indonesia cũng đạt trên 5.000 USD, trong khi Việt Nam chưa nổi 2.000 USD/người/năm. Vậy nhưng giá xe ôtô tại Việt Nam cao hơn 1,5 lần so với 2 nước này.

Qua đó mới thấy, dân Thái Lan, Indonesia có cơ hội tiếp cận với ôtô dễ dàng biết chừng nào, còn với người Việt Nam vẫn chỉ là giấc mơ xa vời.

Giá xe “cắt cổ” vì đâu?

Theo các chuyên gia kinh tế, sở dĩ người tiêu dùng Việt Nam đang phải trả đắt gấp 3 lần so với người Mỹ, gấp 1,5 lần Thái Lan, Indonesia cho một chiếc xe tương đương là vì cho đến lúc này, toàn bộ thị trường vẫn bị chi phối bởi các nhà sản xuất ôtô nước ngoài hoặc các liên doanh với nước ngoài mà không có đối trọng từ bất cứ nhà sản xuất nội địa nào, hay mức giá cạnh tranh nào từ các sản phẩm nhập ngoại.

Người dân Việt Nam muốn sở hữu một chiếc ôtô, họ phải trả cho chiếc xe ấy rất nhiều loại thuế và phí

Thêm vào đó là chính sách thuế rất cao của Chính phủ áp cho mặt hàng này. Người dân Việt Nam muốn sở hữu một chiếc ôtô, họ phải trả cho chiếc xe ấy rất nhiều loại thuế và phí. Chính bởi gánh nặng thuế và phí hiện nay mà người tiêu dùng Việt Nam, với mức thu nhập rất khiêm tốn, song nếu muốn có một chiếc xe hơi “hạng trung”, họ phải trả giá cho chiếc xe đó với mức tiền cao gấp 3 lần mức giá thế giới đối với chiếc xe cùng loại.

Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố hiệu quả của sản xuất. Một chuyên gia lâu năm trong ngành công nghiệp ôtô cho biết, số xe mà các liên doanh đăng ký sản xuất hằng năm chỉ là để báo cáo, trên thực tế họ chưa khai thác được hết công suất của dây chuyền.

Thông thường, công suất khai thác càng thấp thì càng lỗ vì không thể đủ doanh thu để khấu hao của cả dây chuyền. Thế nhưng các liên doanh vẫn có lãi cao. Điều này chứng tỏ giá bán ôtô đã bị đẩy lên rất nhiều so với giá trị thực của xe.

Theo qui luật thị trường thì ai hoạt động không hiệu quả sẽ phải rút lui, nhường lại thị trường cho ai đạt hiệu quả cao hơn. Nhưng do được bảo hộ nên chẳng thấy ai rút lui mà chỉ thấy người mới kéo đến. Còn người tiêu dùng thì vẫn phải chịu giá cao mà chẳng hiểu vì sao lại cao đến thế.

So Sánh Giá Bán Ôtô Honda Ở Việt Nam Và Thái Lan

Honda Việt Nam vừa công bố giá bán cho loạt ôtô nhập khẩu từ Thái Lan. Đây là lô xe được miễn thuế nhập khẩu theo cam kết với các nước ASEAN và được kỳ vọng sẽ rẻ hơn khá nhiều so với trước đây.

Mặc dù công bố giá bán chính thức cho 4 model nhập khẩu từ Thái Lan nhưng liên doanh Nhật Bản vẫn chưa hoàn tất các thủ tục để thông quan lô xe này. Honda Việt Nam cũng không hé lộ chi tiết phương thức hình thành nên giá bán các model, tuy nhiên, với việc được miễn thuế nhập khẩu, loạt xe Honda này vẫn phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng bên cạnh các chi phí khác.

Giá bán các mẫu xe Honda tại Thái Lan và Việt Nam

Theo bảng giá Honda Việt Nam công bố, mẫu xe nhỏ Honda Jazz với 3 phiên bản V, VX, RS có giá bán lần lượt là 538, 589 và 619 triệu đồng. Tại Thái Lan, loạt model này có giá bán là 654.000, 694.000 và 739.000 bath, tương đương 471, 500 và 532 triệu đồng. Có thể thấy dòng xe Jazz tại Thái Lan rẻ hơn ở Việt Nam từ 70 đến 90 triệu đồng, tùy từng phiên bản.

Mẫu sedan hạng C Honda Civic tại Việt Nam có 3 phiên bản 1.5G, 1.5L và 1.8E. Mức giá bán lẻ lần lượt là 826, 898 và 758 triệu đồng. Trong khi đó, tại Thái Lan, mẫu xe Honda Civic 1.5 Turbo có giá bán 1.099.000 bath, tương đương 792 triệu đồng. Bản 1.8E tại Thái Lan, giá chỉ 869.000 bath, tương đương 626 triệu đồng. Mức giá cho Honda Civic ở Việt Nam đắt hơn ở Thái Lan từ 100 đến hơn 130 triệu đồng.

Honda Jazz ở Thái Lan rẻ hơn Việt Nam từ 70 đến 90 triệu đồng, tùy phiên bản.

Mẫu SUV Honda CR-V tại Thái Lan chỉ có phiên bản với động cơ 2.4L kết hợp hệ dẫn động một cầu hoặc 4 bánh. Mức giá cao nhất 1.699.000 bath, tương đương 1,23 tỷ đồng. Bản thấp nhất 2.4E giá 1.399.00 bath, tương đương 1,007 tỷ đồng.

Tại Việt Nam, dòng xe Honda CR-V sử dụng động cơ 1.5L turbo và có giá bán từ 958 triệu đến 1,068 tỷ đồng.

Riêng dòng Honda Accord mức giá tại 2 thị trường Thái Lan và Việt Nam tương đương là gần 1,2 tỷ đồng.

Dải sản phẩm ôtô của Honda Việt Nam hiện chủ yếu được nhập khẩu từ Thái Lan. Một model khác nhập khẩu từ Nhật Bản trong khi chỉ có một dòng xe sản xuất trong nước là Honda City.

Hân Nguyễn

So Sánh Các Dòng Xe Nhật, Mỹ Và Châu Âu

Nếu như Nhật Bản nổi tiếng với dòng xe nhỏ, tiết kiệm nhiên liệu thì Mỹ lại khiến người ta nhớ đến những mẫu bán tải, SUV cỡ lớn, thể thao thiên về khả năng tăng tốc

Xe Nhật: nhỏ, tiết kiệm nhiên liệu và hiệu quả

Ấn tượng đầu tiên về những chiếc xe đến từ Nhật Bản là vẻ ngoài nhỏ gọn, giá rẻ và tiết kiệm nhiên liệu. Đặc trưng cơ bản này xuất phát từ lịch sử nền kinh tế khó khăn và khan hiếm dầu mỏ.

Mới đầu, những mẫu xe Nhật chủ yếu chỉ nhắm đến thị trường nội địa. Tuy nhiên đến thập niên 70, thế giới bước vào giai đoạn khủng hoảng dầu mỏ thì những hãng xe Nhật Bản như Honda, Toyota hay Nissan đã bước sang một trang mới khởi sắc nhờ đánh đúng vào điểm yếu tốn kém nhiên liệu và giá thành đắt đỏ của xe Mỹ hay châu Âu.

Tuy ở một số phân khúc, xe Nhật Bản không phải nhỏ hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn so với các đối thủ khác. Theo Topspeed, BMW 328d bản máy dầu có mức tiêu thụ trung bình 8,7 lít/100 km, tương đương Scion iQ 2014 và Mitsubishi Mirage CVT, chứng minh mẫu serie 3 vẫn là một trong những chiếc xe tốt nhất thế giới. Nhưng giá trị thương hiệu của những chiếc xe Nhật đã được bảo đảm hình ảnh hiệu quả, tiết kiệm từ lâu. Do đó Honda, Toyota hay Nissan đều tạo nên thương hiệu và chỗ đứng vững chắc hơn trên thị trường.

Một lợi thế khác của xe Nhật Bản là độ tin cậy cao. Một nghiên cứu của JD Power & Associates năm 2002 đã chỉ ra rằng, xe Nhật Bản có giá trị lâu dài cao nhất. Theo báo cáo năm 2010 của chuyên trang đánh giá Consumer Reports, xe Nhật chiếm 7/10 mẫu xe đáng tin cậy nhất năm. Vì thế khi bán lại xe Nhật rất ít khi bị rớt giá.

Thêm một điều khiến xe Nhật nổi trội hơn là vấn đề bảo dưỡng. Với xe Mỹ hay Châu Âu, người sử dụng xe phải bảo dưỡng thường xuyên với chi phí rất đắt. Còn xe Nhật thì đơn giản hơn, chu kì bảo dưỡng dài, chi phí thấp nếu bảo dưỡng theo đúng khuyến nghị của nhà sản xuất.

Khi nhắc tới các dòng xe của Nhật hiện tại ở Việt Nam thì không thể không nhắc tới những dòng xe của Honda Ôtô đã được người dùng đánh giá cao như Honda CRV, Civic, City và chiếc xe đa dụng mới nhất là Honda Jazz.

Xe Mỹ: dung tích động cơ vượt trội

Nhiều ý kiến cho rằng, xe Mỹ sinh ra gần như để dành riêng cho phái mạnh. Đặc trưng của xe Mỹ là những chiếc SUV hoặc bán tải có kích thước lớn. Vì thế mà mỗi khi nhắc đến xe Mỹ là người ta nghĩ đến phong cách cơ bắp, đồ sộ đem lại cảm giác mạnh mẽ. Xét riêng khía cạnh này, thì xe Nhật không thể cạnh tranh với xe Mỹ.

Một điểm đặc trưng khác không thể không nhắc tới đối với xe Mỹ là trang bị động cơ lớn, mang đến cho người dùng cảm giác bất kham. Trong số 10 chiếc xe có động cơ lớn nhất thế giới thì 6 chiếc là xe Mỹ. Chẳng hạn Dodge Viper với trang bị dung tích động cơ 8.7L. Vị trí số 2 thuộc về Chevrolet Camaro Z/28 với dung tích động cơ 7 lít.

Dù chỉ dùng dẫn động cầu sau, nhưng trong một bài thử xe của MotorTrend năm 2024, Chevrolet Camaro Z/28 2014 giành chiến thắng trước Porsche 911 Turbo S 2014 và Nissan GT-R 2024 (đều dùng dẫn động 2 cầu) về tốc độ hoàn thành đường đua Streets of Willow. Giá bán của chiếc xe Mỹ là 75.000 USD, thấp hơn con số 117.000 USD của Nissan GT-R và 185.000 USD của Porsche 911 Turbo S.

Xe châu Âu mạnh, đương nhiên đắt hơn nhiều so với xe Mỹ. Dodge Challenger SRT Hellcat 2024 có công suất 707 mã lực, giá bán chưa đến 60.000 USD tại Mỹ rẻ hơn rất 5 lần so với Lamborghini Aventador hay Bentley Continental SuperSports có mã lực thấp hơn rất nhiều.

Ở khía cạnh công nghệ, ở Mỹ có nhiều loại xe đang dẫn đầu về xe tự lái, loại phương tiện đòi hỏi nhiều công nghệ phức tạp.

Xe Châu Âu: “Đắt xắt ra miếng”

Nhắc đến Châu Âu, ngay lập tức chúng ta liên tưởng đến sự xa hoa, lộng lẫy. Ô tô ở Châu Âu cũng không ngoại lệ. Những chiếc xe Châu Âu luôn có mức giá cao ngất lại nhưng luôn đảm bảo được tiêu chí chất lượng.

Châu Âu là vùng đất sinh ra rất nhiều dòng xe sang như Rolls-Royce, Bentley hay Maybach. Trong đó, Đức được biết đến là một đất nước có kỹ thuật cơ khí tuyệt vời. Đặc biệt, giá trị những thương hiệu này chỉ có tăng chứ không có giảm.

Chúng ta có thể so sánh Mercedes SLR McLaren và Dodge Viper là hai ví dụ điển hình. Hai mẫu xe hiệu suất cao tương đương về kích thước và hiệu suất. Nhưng Viper sản xuất ở Mỹ có giá 80.000 USD, trong khi SLR McLaren xuất xưởng ở châu Âu và giá bán cao gấp 5 lần.

Có một đặc điểm trong thiết kế xe châu Âu là tính truyền thống. Vì vậy mà nhiều mẫu xe của Lamborghini thường kế thừa kiểu dáng từ “người tiền nhiệm”. Ví dụ như Lamborghini, Aventador đều mang hơi hướng của Murcielago. Tuy nhiên Murcielago lại có chút hình ảnh của Diablo. Mà kiểu dáng của Diablo lại bắt nguồn từ Countach. Ngoài ra, còn nhiều ví dụ khác, như Ferrari, BMW, Audi, Aston Martin, Rolls-Royce,…

Tốc độ cũng là một yếu tố khiến người ta nhớ đến xe châu Âu. Trong danh sách những mẫu xe nhanh nhất hành tinh thì xe châu Âu luôn chiếm ưu thế. Bugatti Chiron đang dẫn đầu thế giới về kỷ lục tốc độ xe thương mại.

Nếu xét về phương tiện truyền thống, xe châu Âu đang bỏ xa Ford hay GM về công nghệ nói chung. Nhiều hãng đã bắt kịp xu hướng áp dụng công nghệ cao vào quá trình sản xuất.

Nói về cảm giác lái, một chuyên gia của tờ TheZebra chia sẻ: “Các hãng Đức nổi tiếng với xe hiệu năng cao, làm nên những chiếc xe nhanh và ổn định, có thể vượt qua mọi góc cua với tốc độ cao mà không gặp bất kỳ rắc rối. Xe của họ hơn xe Mỹ ở khả năng xử lý và cảm giác lái”.

Tóm lại, ở mỗi khu vực thì các chiếc xe lại có những ưu thế riêng, phù hợp với từng đối tượng sử dụng.

Khập Khiễng Nếu So Sánh Ôtô Và Xe Máy

Tôi có vài ý kiến về bài viết của bạn Linh, tôi hoàn toàn thông cảm với những suy nghĩ của bạn. Tuy nhiên, tôi không ở một thành phố lớn như bạn mà ở một tỉnh lẻ miền Trung. Mức độ xe cộ, ô nhiễm không có nhiều như thành phố bạn và tôi cũng rất muốn có một chiếc ôtô để đi lại cho công việc và cả đi chơi. Và tôi cũng rất buồn nếu như ý kiến của bạn được áp dụng thì tôi sẽ không có cơ hội được lái xe hơi.

Cách bạn Linh so sánh ôtô với xe máy, tôi thấy sao khập khễnh quá. Bạn nói rằng ôtô gây nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường, tiêu thụ nhiên liệu nhiều hơn xe máy. Tôi thì không cho rằng vậy: Về mức độ tiêu thụ nhiên liệu một chiếc ôtô tiêu thụ 7-8 lít/100 km thì 5-6 xe máy là bao nhiêu? Cứ cho là mỗi xe tiêu thụ 2 lít/100 km thì 5-6 xe sẽ mất 10-12 lít. Cái nào nhiều hơn?

Về mức độ ô nhiễm, bạn có ngửi được mùi khói xe của 5-6 ống bô xả ra chưa? Nếu so sánh với ôtô chỉ có 1-2 ống bô thôi. Còn như bạn ngồi trong ôtô thì đảm bảo bạn không ngửi thấy mùi gì hết.

Bạn viết rằng, 1 người dùng ôtô sẽ khiến cho đường xá chật hẹp hơn, chiếm chỗ của 5-6 người sử dụng các phương tiện khác. Nhưng bạn không nghĩ rằng trên xe ôtô còn lại 4-15 chỗ ngồi. Ở đây ta so sánh cùng công năng, thì tính trung bình ra 1 ôtô cũng chở số người xấp xỉ 5-6 xe máy.

Bạn viết rằng, nhà nước hoàn toàn có quyền (và nên) điều chỉnh hành vi của dân trong việc sử dụng phương tiện giao thông. Điều đó thì tôi đồng ý. Thế nhưng bạn có phải là công dân tốt không? Khi bạn ngồi trên xe máy, bạn có đội mũ bảo hiểm không? Tôi dám chắc là không, bởi vì bạn chỉ ở trong thành phố nên bạn chỉ lái xe trong thành phố. Nếu như áp dụng đúng và đủ thì đã ngồi lên xe là phải đội mũ bảo hiểm, không cần biết bạn chạy xe trong hay ngoài thành phố. Tại sao dân ngoại thành đã nghèo lại bắt người ta tốn thêm tiền mua mũ, còn dân trong thành thì không, chẳng lẽ chạy xe trong thành phố thì không có tai nạn sao?

Khi nhà nước đưa ra quy định đội mũ bảo hiểm, thì phản đối dữ dội nhất là dân thành phố. Cho nên đối với xe máy mà bắt buộc đội mũ bảo hiểm cả trong thành phố, thì bạn sẽ thấy rằng lượng xe máy sẽ giảm đi một nửa, và người ta sẽ đi taxi, xe buýt hay các phương tiện công cộng khác và bạn cũng sẽ không còn thấy cảnh “dân phố chỉ đi có 500 m mua ngô luộc cũng lên xe máy”, mà họ sẽ đi bộ đó bạn ạ!

Vấn đề xuất khẩu xe ôtô như bạn viết, tôi nghĩ đó là điều không tưởng, bởi giá xe ở ta như vậy thì ta xuất cho ai. Mazda 3 ở Mỹ là 15.000 USD ở ta 35.000 USD, Ford Focus 19.000 so với 39.500 USD… Trong khi đó bên ta hai nước láng giềng thì xe rẻ vô cùng. Dân kinh doanh ở tỉnh tôi qua đầu tư bên Lào, họ mua xe bên đó đem về Việt Nam chạy chơi mà toàn xe xịn cỡ như Lexus… vâng tất nhiên là phải mang biển số Lào rồi!

Tôi nghĩ rằng, việc gì cũng có mặt tốt và mặt xấu của nó. Cứ để mọi việc phát triển một cách tự nhiên, ta theo dõi uốn nắn theo thì có lẽ tốt hơn là hạn chế hay ngăn cấm.

Tôi nghĩ rằng, khi xe hơi nhiều lên thì sẽ kéo theo sự đầu tư bãi đậu xe như ở nước ngoài, thành phố sẽ giãn rộng ra vùng ngoại ô, giảm đi mật độ dân số, sức khoẻ sẽ tốt hơn người ta sẽ yêu đời hơn, nền công nghiệp ôtô phát triển kéo theo nhiều ngành nghề khác đi lên, đời sống sẽ được nâng cao hơn.

So Sánh Sức Mạnh Quân Sự Giữa Mỹ Và Trung Quốc

Các binh sĩ Mỹ được triển khai thường xuyên từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1990, trong khi bộ binh Trung Quốc không tham gia chiến đấu từ những năm 1970.

Chính sách chỉ cho phép đẻ 1 con của Trung Quốc cũng tiềm ẩn những nguy cơ tiềm tàng, bởi vì những gia đình sinh 1 con thường có xu hướng chiều chuộng con của hơn. Điều này có thể khiến những đứa trẻ khi lớn lên gặp khó khăn trong việc tập luyện thể chất nặng và thâm chí không có các kỹ năng cơ bản như giặt quần cáo.

Mỹ cũng gặp những vấn đề khó khăn tương tự. Một báo cáo mới đây đã phát hiện thấy rằng 75% thanh niên Mỹ từ 17 đến 24 tuổi không đủ tiêu chuẩn để tham gia các lược lượng vũ trang của quân đội nước này, bởi các lý do như: thể chất không đạt yêu cầu, chưa tốt nghiệp phổ thông hay đã từng phạm tội.

Không quân

Số lượng máy bay trong quân đội Mỹ nhiều gấp 3 lần so với quân đội Trung Quốc. Hiện tại, Bắc Kinh vẫn đang cố gắng phát triển các loại máy bay chiến đấu tàng hình. Nhưng điểm yếu của họ nằm ở ngành công nghiệp chế tạo động cơ.

Chiến đấu cơ tàng hình J-20 của Trung Quốc (được thiết kế để đối phó với F-22 và F-35 của Mỹ) vẫn đang phụ thuộc vào động cơ của Nga hoặc sử dụng động cơ hiệu quả thấp được sản xuất trong nước.

Trung Quốc đang khắc phục điểm yếu này bằng cách mua các máy bay chiến đấu Su-35 và một số lượng động cơ máy bay chiến đấu của Nga. Nhưng J-20 sẽ không thể hoạt động trước năm 2024 và cần một thời gian dài nữa để sản xuất hàng loạt.

Ngoài ra để các máy bay chiến đấu tàng hình hoạt động hiệu quả, Trung Quốc phải phát triển những loại vũ khí, raddar, hệ thống điện tử tương thích với loại máy bay thế hệ mới này.

Để khắc phục điểm yếu của lực lượng Không quân, Trung Quốc đang phát triển những hệ thống tên lửa đất đối không hiện đại và lớn nhất thế giới.

Hải quân

Từ trước tới nay, Hải quân Trung Quốc không thể so sánh với Hải quân Mỹ không chỉ về số lượng các chiến hạm mà còn về chất lượng huấn luyện.

Washington hiện có 10 tàu sân bay đang hoạt động, trong khi Bắc Kinh chỉ có duy nhất 1 tàu sân bay (mua từ Nga) hiện đang được sử dụng với mục đích huấn luyện và sơ tán khẩn cấp.

Trung Quốc phải mất nhiều năm nữa mới có thể vận hành hiệu quả tàu sân bay và thực hiện các chiến dịch triển khai hay chiến đấu xa bờ.

Bắc Kinh dự kiến sẽ phát triển một đội tàu sân bay do nước này sản xuất với chiếc tàu sân bay nội địa đầu tiên có khả năng hoàn thành vào năm 2024.

Hiện tại, Trung Quốc đang phát triển lực lượng tàu ngầm hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo có khả năng tấn công các mục tiêu ở cách xa 7.400 km.

Bắc Kinh cũng đang tập trung và chiến lược tuần tra các vùng biển nước ngoài, với 2 tàu chiến và một tàu hỗ trợ tham gia các sứ mệnh chống cướp biển ở ngoài khơi phía đông châu Phi từ năm 2008, nhưng các hoạt động này vẫn thua xa tần suất tuần tra của tàu chiến Mỹ trên các vùng biển toàn thế giới.

Sức mạnh đáng sợ nhất của Hải quân Trung Quốc hiện nay nằm ở tên lửa hành trình và đạn đạo chống tàu chiến. Đây là loại vụ khí có thể ngăn chặn hiệu quả các tàu sân bay của Mỹ.

Toàn diện

Trung Quốc đang phát triển rất nhanh cả về kinh tế và quân sự. Họ huấn luyện quân đội tham gia nhiều sứ mệnh khác nhau, đồng thời phát triển các phương tiện trên không và trên biển nhằm mục đích biến nước này trở thành cường quốc trên thế giới.

Tuy nhiên, quá trình phát triển này sẽ cần nhiều thập kỷ nữa. Trung Quốc cần thời gian không chỉ để phát triển công nghệ cho vũ khí và phương tiện quân sự hiện đại mà còn để đào tạo những kỹ năng cần thiết cho quân đội của họ có thể triển khai những hệ thống này một cách hiệu quả.

Xét trên mọi phương diện, Mỹ vẫn đang vượt xa Trung Quốc về kỹ thuật hiện đại và quân đội giàu kinh nghiệm.

Trung Quốc đầu tiên phải phát triển khả năng toàn cầu, triển khai quân đội tại nước ngoài và gửi binh sĩ tham chiến trước khi hy vọng có thể đối đầu với Mỹ.

“Đại chiến” Mỹ – Nga: “Mèo nào cắn mỉu nào?”

Kể từ sau “Chiến tranh lạnh”, quan hệ Mỹ – Nga chưa bao giờ nguội lạnh. Nếu đại chiến xảy ra, ai sẽ giành chiến thắng?

Việc so sánh khả năng quân sự giữa hai cường quốc có thể bắt đầu với dân số của hai nước. Dân số của Nga tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2013 là 143.347.059 người còn dân số của Mỹ tính đến tháng 12 năm 2012 là 314.895.000 người. Trên thực tế nếu xẩy ra một cuộc chiến tranh toàn cầu, Mỹ sẽ có một lực lượng đông đảo hơn. Tiềm năng huy động nguồn lực cho quân đội Nga ước tính khoảng 31 triệu người và của Mỹ là 56 triệu người.

Đồng thời, trong cuộc chiến tranh tiêu hao để bù đắp lại những tổn thất, Mỹ sẽ được cung cấp một lực lượng nhiều hơn và hiệu quả hơn. Hiện nay, quân đội Nga có khoảng 1 triệu quân nhân, trong đó có 70.000 lính trong biên chế, và khoảng 300.000 lính nghĩa vụ. Trong khi đó, Mỹ có khoảng 1,4 triệu quân, với khoảng 1.1 đến 1.3 triệu quân dự bị động viên hoặc dự trữ.

Theo học thuyết quân sự năm 2012 của Mỹ đó là “duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ trong thế kỷ 21”, quân đội Mỹ sẵn sàng tiến hành cùng lúc các cuộc chiến tranh quy mô lớn để kiềm chế đối phương trong các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong trường hợp xảy ra một xâm lược quân sự chống lại nước Nga, quân đội Mỹ có thể sử dụng phần lớn lực lượng vũ trang của mình cho cuộc chiến.

Lục quân

Xe tăng được xem là “vua chiến trường” của bất cứ Lục quân nước nào. Năm 2012, Quân đội Mỹ có 1963 xe tăng Abrams M1A2 trong đó có có 588 chiếc được nâng cấp lên phiên bản M1A2SEP. Ngoài ra, quân đội Mỹ vẫn còn có khoảng 2.400 xe tăng M1A1 và khoảng 2.385 xe tăng M1 trong kho vũ khí.

T-90 được xem là xe tăng hiện đại nhất của Quân đội Nga. Có khoảng 500 chiếc T-90 bao gồm các biến thể T-90A và T-90AK trong biên chế Lục quân nước này. Đồng thời, quân đội Nga có khoảng 4,5 triệu xe tăng T-80 xe tăng và 12.500 xe tăng T-72 với các biến thể sửa đổi khác nhau. Như vậy, có thể thấy,chỉ 1/3 số xe tăng của Nga cũng đã vượt quá số lượng toàn bộ số xe tăng mà Quân đội Mỹ hiện có. Vì vậy, nếu như triển khai toàn bộ số xe tăng này cho một trận đại chiến, quân đội Nga dường như có ưu thế vượt trội hơn nhiều so với Mỹ về số lượng.

Ngoài ra, quân đội Mỹ có khoảng 6,5 triệu xe bọc thép chiến đấu Bradley còn Nga có khoảng 700 chiếc BMP-3, 4.500 chiếc BMP-2 và gần 8.000 BMP-1. Xe bọc thép chở quân phục vụ trong quân đội Nga có khoảng 4.900 chiếc gồm BTR-70 và BTR-82A. Có thông tin cho rằng đến năm 2024 tất cả các xe bọc thép chở quân BTR-80 sẽ được nâng cấp lên phiên bản BTR-82A (AM). Ngoài ra, quân đội Nga có khoảng 1.500 xe bọc thép BMD với các biến thể sửa đổi khác nhau và khoảng 700 xe bọc thép BTR-D. Quân đội Mỹ có số lượng xe bọc thép chiến đấu nhiều hơn đáng kể – khoảng 16.000 chiếc.

Một trong những yếu tố chính góp phần làm nên chiến thắng trên chiến trường đó là sự chuẩn bị pháo binh tốt. Hiện nay, quân đội Mỹ có khoảng 2.000 pháo tự hành và 1.500 pháo kéo khác. Trong quân đội Nga vào năm 2010, đã có hơn 6.800 pháo tự hành và 7.500 súng kéo. Trong số này, có 4.600 pháo 122-mm D-30 là những đại bác đã được lên kế hoạch nghỉ hưu vào cuối năm 2013. Ngoài ra, Nga có khoảng 3.500 pháo phản lực phóng loạt (MLRS), trong khi quân đội Mỹ chỉ có 830 hệ thống như vậy. Vì vậy, nếu xét về số lượng pháo tự hành, quân đội Nga vẫn tỏ ra vượt trội hơn so với Mỹ.

Quân đội Nga hiện có khoảng 2.500 xe tăng trực chiến tại các căn cứ quân sự với 4 lữ đoàn xe tăng độc lập, được trang bị khoảng 91 đến 94 xe tăng chiến đấu chủ lực mỗi lữ đoàn. Ngoài ra, còn có khoảng 30 lữ đoàn bộ binh cơ giới, mỗi lữ đoàn được biên chế bao một tiểu đoàn xe tăng với 41 xe tăng. Số xe tăng còn lại được bảo quản trong các kho và luôn trong trạng thái sẵn dàng chiến đấu. Điều này hoàn toàn tương tự với lực lượng pháo binh.

Ngoài ra quân đội của hai nước này có một số lượng lớn cá máy bay trực thăng. Quân đội Mỹ có khoảng 2.700 máy bay trực thăng. Nga có số máy bay trực thăng ít hơn – 1.368 chiếc (ít hơn hai lần).

Không quân

Không quân Mỹ có một lực lượng khá hùng hậu, đứng đầu thế giới về số lượng máy bay chiến đấu. Tính đến năm 2011 có 144 máy bay ném bom chiến lược (66 B-1, 20 B-2 và 58 B-52), 297 máy bay cường kích A-10 và 1629 máy bay tiêm kích (471 F-15, 968 F -16, 179 F-22 và 11 F-35) trực chiến trong Không lực Mỹ. Mỹ cũng là quốc gia duy nhất trên thế giới có sự phục vụ của các máy bay chiến đấu thế hệ năm – F-22 Raptor. Ngoài ra, trong biên chế của Hải quân (năm 2008) có 867 máy bay tiêm – cường kích F/A-18. Như vậy, tổng số máy bay chiến đấu, không bao gồm dự trữ của Không quân Mỹ là 2.937 chiếc.

Không quân Nga có 80 máy bay ném bom chiến lược (16 Tu-160, 64 Tu-95MS), 150 máy bay ném bom tầm xa Tu-22M3, 241 Su-25, 164 Sukhoi Su-24M và M2, 26 Sukhoi Su- 34. Máy bay tiêm kích có 953 chiếc (282 MiG-29, 252 MiG-31, 400 Su-27, 9 Su-30 và 10 Su-35). Như vậy, tổng số máy bay chiến đấu của Không quân Nga là 1.614 chiếc, ít hơn của Mỹ hai lần.

Cần lưu ý rằng hiện nay Không quân Nga đang tích cực hiện đại hóa và tái vũ trang. Nga đang phát triển và sẽ đưa vào trang bị các máy bay chiến đấu thế hệ năm – PAK FA. Ngoài ra, Không quân Nga còn có Su-35S có thể được xem là sự thay thế hoàn hảo cho các máy bay thế hệ năm với những tính năng không hề kém cạnh PAK FA. Dự kiến Không lực Nga sẽ mua ít nhất 48 chiếc máy bay loại này. Ngoài ra, vào năm 2012 một nửa số máy bay chiến đấu Su-27 đã được nâng cấp lên phiên bản Su-27SM3 có khả năng “ngồi cùng mâm” với tất cả các máy bay thế hệ thứ 4. Đồng thời, Không quân Nga cũng đang tích cực hiện đại hóa các máy bay tiêm kích đánh chặn MiG-31.

Trong kho tên lửa không đối không của Nga có một số lượng lớn các tên lửa R-37, có thể được sử dụng trên các máy bay tiêm kích đánh chặn MiG-31BM, Su-27 và Su-35 có khả năng đánh trúng mục tiêu ở khoảng cách lên tới 300 km. Ngoài ra, Nga cũng đang làm việc trên một tên lửa mới mang tên KC-172, có tầm bắn đến 400 km. Không lực Mỹ thì sở hữu các tên lửa đối không tầm xa AIM-120S7 và AIM-120D có thể bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách tương ứng là 120 và 180 km.

Theo tác giả bài viết, với hệ thống radar hiện đại và tên tên lửa R-37 có tầm hoạt động lớn hơn bất kỳ tên lửa đối không nào của Mỹ, các tiêm kích đánh chặn Su-35, Su-27 và MiG-31BM có thể rút ngắn khoảng cách với các máy bay chiến đấu thế hệ năm tiên tiến nhất F-22 Raptor của Không lực Hoa Kỳ, có tầm nhìn thấp. Với máy bay chiến đấu như F-15, F-16 và F/A-18, chúng có thể “giải quyết” mà không có bất kỳ vấn đề nào.

Phòng không

Theo một báo cáo của trung tâm phân tích Air Power Australia, trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự quy mô lớn, Không quân Hoa Kỳ gần như bị loại bỏ hoàn toàn bởi lượng phòng không Nga với radar và hệ thống tên lửa đã đạt đến mức cao nhất của sự phát triển. S-400 được xem là hệ thống tên lửa phòng không hiện đại nhất và không có loại tương tự trên thế giới ngay cả Patriot của Mỹ.

Đồng thời, hệ thống tên lửa phòng không S-300 của Nga vẫn đủ khả năng để đối phó với bất kỳ kẻ thù tiềm năng nào. Theo một số chuyên gia Châu Âu, hệ thống phòng thủ tên lửa của Nga có thể loại bỏ tới 80% máy bay của đối phương xâm phạm không phận nước Nga. Các chuyên gia Nga thì khiêm tốn hơn khi ước tính con số này vào khoảng 60-65%. Trong năm 2010, Nga có khoảng 2.100 tổ hợp tên lửa S-300 và 72 tổ hợp S-400 triển khai thành 9 tiểu đoàn tên lửa phòng không. Đự kiến, đến năm 2024 Nga sẽ triển khai 56 tiểu đoàn trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không S-400. Ngoài ra, quân đội Nga còn có ít nhất 22 hệ thống phòng không tầm ngắn – Panstir-S1.

Hệ thống các tổ hợp tên lửa phòng không này như một “chiếc ô” bảo vệ nước Nga khỏi các mối đe dọa bên ngoài và cho phép quân đội Nga có thể đối phó với bất cứ kẻ thù nào.

Theo tác giả, sẽ rất khó có một cuộc chiến độc lập diễn ra giữa Mỹ và Nga bởi vì hiếm có cuộc chiến nào mà lại không lôi kéo đồng minh vào cuộc. Mỹ là một thành viên NATO, nếu như không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ của tất cả quốc gia đồng minh trong Liên minh thì ít nhất họ đã có Anh – người bạn được xem là thân nhất của Hoa Kỳ ở châu Âu.

*Clip tiềm lực quân sự Nga-Mỹ-TQ và VN:

So Sánh Xe Tải Hino Lắp Ráp Và Nhập Khẩu

Cánh tài xế đánh giá xe tải Hino 5 tấn:

Anh Vương nhận xét: – “Xe tải hino 5 tấn là dòng xe được thiết kế đơn giản, nhỏ gọn chất lượng cao mang tính ưu việt. Kiểu dáng khí động học làm giảm lực cản gió. Kính chắn gió được tráng Lamilate: chỉ vỡ cục bộ không gây nguy hiểm cho tài xế.”

“Dòng xe lắp ráp trong nước tuy có giá thành đắt hơn so với xe nhập khẩu nhưng động cơ rất mạnh mẽ, công xuất lớn, khả năng leo dốc tốt.” – Anh Tâm chia sẻ.

Anh Minh nhận xét: –“Tôi thấy xe nhập khẩu có kích thước phù hợp để đi vào khu đông dân cư và thành phố, động cơ tương đối mạnh mẽ.”

Nhà máy Hino Việt Nam hiện phân phối 2 dòng xe tải Hino 5 tấn:

Hino XZU730L lắp ráp trong nước

Dutro WU342L 300 nhập khẩu Indonesia.

Giá xe tải Hino giữa xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước:

Giá xe tải lắp ráp trong nước giao động từ 500 đến 600 triệu đồng.

Động cơ xe:

Giá xe nhập khẩu rẻ hơn khoảng 120 triệu

Xe tải Hino 300 Series lắp ráp trong nước có ưu điểm là công suất lớn hơn, khả năng leo dốc tốt, tiêu chuẩn khí thải Euro III. Động cơ dòng xe tải Hino 5 tấn XZU730L lắp ráp là loại N04C-VB cho công suất 150Ps và mô-men xoắn 420Nm. Sức mạnh này khiến xe tăng tốc và vượt dốc khá mượt mà. Động cơ Euro 3 phun nhiên liệu điện tử, tiết kiệm nhiên liệu thân thiện với môi trường.

xe tải Hino 5 tấn giá rẻKích thước:

Xe nhập khẩu: mẫu xe này dùng động cơ loại W04D-TR công suất 130Ps và mô-men xoắn 363Nm. So với Hino XZU730L lắp ráp thì sức mạnh của phiên bản Hino nhập khẩu này nhỏ hơn. Ngoài ra tiêu chuẩn khí thải vẫn là Euro II là một bất lợi không hề nhỏ đối với những khách hàng muốn mua dòng xe tải này. Động cơ Euro 2 kim phun cơ, máy khỏe hơn.

Xe lắp ráp trong nước: Phiên bản xe tải Hino 5 tấn lắp ráp với kết cấu thùng mui bạt. Kích thước thùng là 5.700x 2.050x 1.950 (mm). Tổng tải là 8500kg. Kích thước thùng dài phù hợp với hàng hòa cồng kềnh.

Xe nhập khẩu: kích thước thùng là 4.400 x 1.800 x 1.800(mm), cũng nhỏ hơn đôi chút so với người anh em lắp ráp trong nước. Kích thước tổng thể, kích thước thùng ngắn phù hợp với việc vào phố, khu đông dân cư và cân tải trọng hàng hóa cao.

Có thêm một ưu điểm của xe tải hino lắp ráp trong nước là: cabin được thiết kế rộng rãi, thoáng mát đem lại sự thoải mái cho người ngồi trong xe. Kể cả người lái xe có chiều cao lớn thì vẫn để chân thật thoải mái. Điều hòa 2 chiều có sẵn theo xe, nội thất xe đẹp, cabin rộng rãi, chống ồn tốt. Đối thủ của dòng tải Hino 300 Series là các dòng xe tải Isuzu N Series, Fuso Canter, xe tải Hyundai….

Tìm mua xe tải Hino chất lượng trên MXH chúng tôi – Ô Tô Miền Nam Tây Nguyên tự hào là thành viên Partner MuaBanNhanh chuyên mục:

Cập nhật thông tin chi tiết về Buốt Ruột So Sánh Thu Nhập Và Giá Ôtô Ở Mỹ trên website Daitayduong.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!